Thứ Năm, 22 tháng 5, 2014

BẢN TIN THUẾ THÁNG 5

BẢN TIN THUẾ THÁNG 5

 
I.    Một số quy định mới về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC. 

Ngày 31/03/2014 Bộ Tài Chính đã ban hành thông tư số 39/2014/TT-BTC  hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 06 năm 2014. Bãi bỏ Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/5/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Các nội dung hướng dẫn về hoá đơn tại các văn bản trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Các văn bản hướng dẫn khác về hóa đơn không trái với Thông tư này vẫn còn hiệu lực thi hành.

Các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đang sử dụng hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành(01/06/2014) nếu không thuộc đối tượng chuyển sang mua hóa đơn của cơ quan thuế theo quy định tại Thông tư này thì vẫn thuộc đối tượng được tạo hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in.

Đối với hóa đơn đặt in, tự in doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đã thực hiện Thông báo phát hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/09/2010 và Thông tư số 64/2013/TT-BTC ngày 15/05/2013 của Bộ Tài chính thì được tiếp tục sử dụng.

Theo quy định đã bỏ hóa đơn xuất khẩu, do đó từ ngày 01/06/2014, cơ quan thuế không tiếp nhận Thông báo phát hành hóa đơn xuất khẩu. Trường hợp các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh chưa sử dụng hết các số hóa đơn xuất khẩu đã đặt in và thực hiện Thông báo phát hành theo hướng dẫn tại các Thông tư trước đó và vẫn có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì đăng ký số lượng hóa đơn xuất khẩu còn tồn và gửi đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 31/07/2014. Từ ngày 01/08/2014, các số hóa đơn xuất khẩu còn tồn đã đăng ký theo quy định tại Khoản này được tiếp tục sử dụng. Các số hóa đơn xuất khẩu chưa đăng ký hoặc đăng ký sau ngày 31/07/2014 không có giá trị sử dụng. Doanh nghiệp thực hiện huỷ hoá đơn xuất khẩu theo hướng dẫn tại Điều 29 Thông tư này.

Doanh nghiệp, tổ chức sử dụng hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng cho hoạt động xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ ra nước ngoài.

 
 (Nguồn: Tổng cục Thuế - gdt.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

II.    Tạm thời sử dụng chứng từ điều chỉnh phi kế toán để áp dụng thời hạn nộp thuế

Ngày 22/04/2014, Tổng cục Hải quan ban hành Công văn 4345/TCHQ-TXNK về việc xử lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp chuyển sang chương trình VNACCS/VCIS.
Để tháo gỡ vướng mắc khi chuyển sang chương trình VNACCS/VCIS về việc xử lý nợ thuế đối với Doanh nghiệp nhập nguyên liệu sản xuất, hàng xuất khẩu và hàng kinh doanh tạm nhập tái xuất, Tổng cục Hải quan sẽ  tạm thời sử dụng chứng từ điều chỉnh phi kế toán để áp dụng thời hạn nộp thuế và chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với hàng hóa là nguyên liệu, vật tư nhập khẩu sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa kinh doanh tạm nhập tái xuất đã nộp hồ sơ không thu thuế và đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 127 Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày 10/09/2013 của Bộ Tài chính.

Việc lập chứng từ điều chỉnh phi kế toán phải tuân thủ các điều kiện sau đây:

•    Hồ sơ không thu thuế phải nộp đúng hạn theo quy định;

•    Đối với trường hợp thanh toán trả chậm còn nợ chứng từ thanh toán: Thời hạn hết hiệu lực của chứng từ điều chỉnh phi kế toán tối đa là 15 ngày làm việc kể từ ngày hết thời hạn thanh toán ghi trên hợp đồng hoặc phụ kiện hợp đồng;

•    Đối với trường hợp đã nộp đủ hồ sơ không thu thuế nhưng chưa ra quyết định không thu thuế: Thời hạn hết hiệu lực của chứng từ điều chỉnh phi kế toán tối đa là 40 ngày đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, không thu thuế sau; 6 ngày làm việc đối với hồ sơ thuộc diện không thu thuế trước, kiểm tra sau kể từ ngày cơ quan hải quan tiếp nhận hồ sơ không thu thuế;

•    Chứng từ phải được Lãnh đạo Chi cục phê duyệt trước khi cập nhật vào hệ thống Kế toán thuế XK, thuế NK (Hệ thống KT559 hoặc hệ thống HTTXNK hoặc hệ thống CIS).

 
(Nguồn: taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.    Bộ Tài chính trả lời về mức phí, lệ phí cấp sổ đỏ

Gửi ý kiến tới Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIII, cử tri TP. Hải Phòng đề nghị giảm mức lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bởi mức thuế, phí và lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay là rất cao khiến người dân khó có điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bộ Tài chính trả lời ý kiến của cử tri TP. Hải Phòng về vấn đề này.

Lệ phí trước bạ là 0,5%

•    Lệ phí trước bạ là một khoản tiền mà người có tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ phải nộp khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tại Điều 7, Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính phủ quy định mức thu lệ phí trước bạ theo tỷ lệ (%) đối với nhà, đất là 0,5%. Mức thu này tính trên giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành nên tương đối phù hợp với khả năng đóng góp của người dân. Đồng thời, đây là mức thấp nhất từ trước đến nay (đã giảm từ 1% xuống chỉ còn 0,5%).

•    Đất và nhà gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 8, Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về thu tiền sử dụng đất thì thuộc diện được ghi nợ lệ phí trước bạ.

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu

•    Phí đo đạc, lập bản đồ địa chính đang được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ Tài chính thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (kể từ ngày 15/02/2014 thực hiện theo Thông tư số 02/2014/TT-BTC ngày 2/1/2014 của Bộ Tài chính - thay thế Thông tư số 97/2006/TT-BTC).
Tại tiết a.2, điểm 4, mục III Thông tư số 97/2006/TT-BTC quy định: Phí đo đạc, lập bản đồ địa chính thu đối với tổ chức, cá nhân được giao đất, cho thuê đất mới hoặc chuyển mục đích sử dụng đất, nhằm hỗ trợ thêm chi phí đo đạc, lập bản đồ địa chính ở những nơi chưa có bản đồ địa chính có tọa độ.

•    Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất đang được thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 97/2006/TT-BTC. Tại tiết a.3, điểm 4, mục III Thông tư số 97/2006/TT-BTC quy định: Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất là khoản thu đối với các đối tượng đăng ký, nộp hồ sơ cấp quyền sử dụng đất có nhu cầu hoặc cần phải thẩm định theo quy định, nhằm bù đắp chi phí thẩm định hồ sơ, các điều kiện cần và đủ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất như: điều kiện về hiện trạng sử dụng đất, điều kiện về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, điều kiện về sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh... Phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất áp dụng đối với cả trường hợp chuyển quyền sở hữu nhà gắn liền với quyền sử dụng đất.

•    Lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 106/2010/TT-BTC ngày 26/07/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn lệ phí cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Trong đó quy định: Đối với hộ gia đình, cá nhân tại các quận thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; phường nội thành thuộc thành phố hoặc thị xã trực thuộc tỉnh: Mức thu tối đa không quá 100.000 đồng/giấy đối với cấp mới; tối đa không quá 50.000 đồng/lần cấp đối với cấp lại (kể cả cấp lại Giấy chứng nhận do hết chỗ xác nhận), cấp đổi, xác nhận bổ sung vào Giấy chứng nhận.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu cụ thể phù hợp với tình hình thực tế địa phương. 

 
(Nguồn: tapchithue.com; Xem chi tiết tại đây)

IV.    Nâng tuổi nghỉ hưu đối với người lao động từ năm 2016

Sáng 24/04, tại phiên họp toàn thể lần thứ bảy, Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã thẩm tra dự án Luật bảo hiểm xã hội (sửa đổi) nhằm tiếp tục hoàn thiện dự án Luật trước khi trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp Quốc hội khai mạc vào tháng 5 tới.

Tại phiên họp, những quy định liên quan đến điều kiện hưởng lương hưu cũng đã gây nhiều băn khoăn. Để đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm hưu trí, dự thảo Luật đã bổ sung quy định về lộ trình tăng thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu của người lao động theo hướng từ năm 2016 trở đi, điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu của cán bộ, công chức, viên chức cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng tuổi cho đến khi đạt 60 tuổi đối với nữ và 62 tuổi đối với nam. Từ năm 2020 trở đi, điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu của các nhóm đối tượng còn lại cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng tuổi cho đến khi đạt 60 tuổi đối với nữ và 62 tuổi đối với nam.

Tuy nhiên có ý kiến cho rằng việc quy định nâng tuổi nghỉ hưu lên 60 tuổi đối với nữ và 62 tuổi đối với nam cần phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe, thể chất, điều kiện, môi trường làm việc của người lao động Việt Nam, nhất là lao động trực tiếp sản xuất, lao động làm trong các khu vực da giày, dệt may, cao su, họ không thể đủ sức làm việc đến độ tuổi này và quy định cứng cho toàn bộ đối tượng người lao động đều phải kéo dài tuổi hưu sẽ là mâu thuẫn với Bộ Luật Lao động.

Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam Cù Thị Hậu cho rằng đã đến lúc bắt buộc phải tính toán cho quỹ bảo hiểm xã hội có kết dư. Tuy nhiên, việc sửa đổi cách tính tỷ lệ hưởng lương theo hướng có lộ trình tăng dần số năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 45% mức bình quân tiền lương tháng để tính lương hưu và tăng tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi lên 2% tương ứng với mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi thì người lao động muốn được hưởng 75% lương phải mất 35 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong khi hiện nay chỉ là 25 năm.

Các ý kiến đề nghị có nhiều cách bảo toàn quỹ bảo hiểm xã hội, trong đó có việc tăng tuổi nghỉ hưu, Chính phủ có thể kéo dài tuổi nghỉ hưu cũng như giảm tuổi nghỉ hưu với một số đối tượng. Có ý kiến đề nghị bổ sung quyền được khởi kiện và quyền được yêu cầu tổ chức công đoàn khởi kiện của người lao động để bảo đảm quyền lợi cho họ vì nhiều nơi có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động hình thức, không hiệu quả, không bảo vệ quyền lợi của người lao động, người lao động ở khu vực phi chính thức không có tổ chức công đoàn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.

 
(Nguồn: tapchithue.com; Xem chi tiết tại đây)